Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất phía nam, lập phủ Gia Định. Theo Gia Định thành thông chí, phủ mới gồm hai đơn vị lớn: xứ Đồng Nai đặt làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; xứ Sài Gòn đặt làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Đây là lần đầu vùng đất này có một khung hành chính của chính quyền Đàng Trong.
Vì thế năm 1698 được lấy làm mốc tuổi của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh; năm 1998 thành phố đã kỷ niệm 300 năm. Cần hiểu đúng: 1698 không phải năm người Việt mới đến, cũng không phải năm có thành phố. Người Việt đã vào khẩn hoang ở đây nhiều chục năm trước; điều 1698 tạo ra là sổ sách, đơn vị cai quản, quan lại và thuế khoá.
Điều thú vị với người đọc hôm nay: dinh Trấn Biên là gốc của Biên Hoà, trong đó có đất Thủ Dầu Một và Bà Rịa sau này; dinh Phiên Trấn là gốc của Gia Định – Sài Gòn. Ba vùng hợp thành TP Hồ Chí Minh năm 2025 vốn đã nằm chung trong phủ Gia Định từ cuối thế kỷ 17.
Vùng đất trước năm 1698
Trước khi có phủ Gia Định, vùng hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn là đất có người Khmer cư trú thưa, xen lẫn rừng, đầm lầy và giồng đất cao. Từ đầu thế kỷ 17, người Việt từ Thuận Quảng đã theo đường biển và đường bộ vào lập nghiệp dần ở Mô Xoài (vùng Bà Rịa), ở Đồng Nai, ở Bến Nghé. Nhiều tư liệu nhắc việc chúa Nguyễn đặt trạm thu thuế ở vùng Prey Nokor từ khoảng thập niên 1620, nhờ quan hệ hôn nhân và ngoại giao với triều đình Chân Lạp.
Năm 1679, một nhóm quan tướng nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh, đem theo binh lính và gia quyến, xin chúa Nguyễn cho cư trú. Chúa cho nhóm Dương Ngạn Địch vào vùng Mỹ Tho, nhóm Trần Thượng Xuyên vào vùng Bàn Lân – Đồng Nai. Người Hoa ở Cù lao Phố (Biên Hoà) lập nên một thương cảng sầm uất, buôn bán với thuyền buôn nhiều nước.
Như vậy đến cuối thế kỷ 17, trên vùng đất này đã có ba nhóm cư dân: người Khmer, người Việt và người Hoa. Họ sống xen kẽ nhưng chưa có một bộ máy cai quản chung. Chuyến kinh lược năm 1698 sinh ra từ chính nhu cầu đó: kiểm dân, chia đất, đặt người cai trị để vùng đất mới khai phá thành một phần ổn định của Đàng Trong.
Nguyễn Hữu Cảnh đã lập những gì
Một phủ, hai huyện, hai dinh. Phủ Gia Định đặt trên đất Đồng Nai – Sài Gòn. Huyện Phước Long với dinh Trấn Biên ở phía đông, huyện Tân Bình với dinh Phiên Trấn ở phía tây. Mỗi dinh có quan Lưu thủ, Cai bộ, Ký lục coi việc binh, việc thuế, việc kiện tụng.
Chia xã, thôn, phường, ấp. Sử cũ chép Nguyễn Hữu Cảnh “mở rộng đất ngàn dặm, được hơn bốn vạn hộ”, chiêu mộ lưu dân từ Bố Chính trở vào, đặt xã thôn, phường ấp, chia cắt địa giới, cho khai khẩn ruộng đất, định lệ thuế. Con số bốn vạn hộ là con số trong sử liệu, nên đọc như ước lượng của thời đó.
Lập sổ cho người Hoa. Người Hoa ở Trấn Biên được lập thành xã Thanh Hà, ở Phiên Trấn lập thành xã Minh Hương, ghi vào sổ hộ tịch. Đây là cách đưa cộng đồng đã có sẵn vào khung quản lý chung, đồng thời giữ cho họ một mức tự quản về buôn bán và tục lệ.
Đặt bộ máy quân sự. Hai dinh đều có quân đồn trú. Vùng đất mới cần lực lượng giữ an ninh trên sông, bảo vệ thuyền buôn và dân khẩn hoang, nên dinh trước hết là đơn vị quân sự – hành chính, chưa phải đô thị.
Dinh Phiên Trấn, dinh Trấn Biên ứng với vùng nào hôm nay
Ranh giới năm 1698 không có bản đồ đo đạc như bây giờ, nên mọi so sánh chỉ là ước lượng theo các công trình địa danh học. Bảng dưới đây giúp bạn hình dung, không nên dùng như ranh giới chính xác.
| Đơn vị năm 1698 | Trung tâm | Vùng ứng với ngày nay (khái quát) |
|---|---|---|
| Dinh Phiên Trấn – huyện Tân Bình | Vùng Bến Nghé – Sài Gòn | Phần lớn TP.HCM cũ phía tây sông Sài Gòn, lan xuống một phần vùng Long An sau này |
| Dinh Trấn Biên – huyện Phước Long | Vùng Biên Hoà, Cù lao Phố | Đồng Nai, phần lớn Bình Dương cũ, Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và vùng Thủ Đức cũ |
| Phủ Gia Định | — | Bao trùm cả hai dinh; về sau mở rộng dần xuống miền Tây |
Từ bảng này sẽ thấy vì sao người nghiên cứu thường nói Thủ Đức, Thủ Dầu Một, Bà Rịa có gốc Biên Hoà, còn khu nội đô cũ có gốc Gia Định. Lần sáp nhập 2025 gom phần lớn đất Phiên Trấn và một phần lớn đất Trấn Biên về một thành phố.
Phần còn lại của Trấn Biên, tức vùng Biên Hoà – Long Thành – Nhơn Trạch, nay vẫn là tỉnh Đồng Nai. Vì vậy khi người Thủ Đức, người Dĩ An hay người Bà Rịa nói “ngày xưa đất mình thuộc Biên Hoà”, họ nói đúng: ranh giới giữa TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai hôm nay là một đường cắt ngang qua vùng đất từng chung một dinh.
Đời sống trên đất Gia Định những năm đầu
Người khẩn hoang thời này không vào một vùng trống trơn mà vào một vùng đầy nước. Đất cao, khô ráo chỉ là các giồng cát, gò đất ven sông như vùng Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức, Bà Chiểu; còn lại là bưng trấp, rạch nhỏ, rừng chồi. Nhà cửa dựng trên giồng, ruộng mở dần xuống chỗ trũng, và mọi việc đi lại đều bằng xuồng ghe. Tên đất của thời ấy còn giữ dấu vết đó: Gò Vấp, Gò Dưa, Bàu Cát, Bàu Sen, Rạch Ông, Rạch Chiếc.
Kinh tế của phủ Gia Định buổi đầu dựa trên lúa gạo, cau, mía, cá tôm và gỗ. Thuyền buôn người Hoa, người Bồ Đào Nha, người Mã Lai ghé Cù lao Phố và bến Sài Gòn mua gạo, gỗ, da, sừng, bán vải, sứ, đồ sắt. Lúa gạo Gia Định về sau còn được chở ra Thuận Hoá nuôi cả xứ Đàng Trong, nên vùng đất mới nhanh chóng trở thành kho lương quan trọng.
Thành phần cư dân pha trộn từ rất sớm. Người Việt từ miền Trung mang vào lối làng có đình, có chùa; người Hoa mang vào phố chợ, hội quán, nghề buôn; người Khmer giữ phum sóc và chùa của mình ở nhiều vùng. Tính cách cởi mở, dễ tiếp nhận người lạ mà người ta hay gắn cho Sài Gòn có gốc từ chính giai đoạn khai phá này, khi ai đến cũng là người mới.
Nguyễn Hữu Cảnh là ai và vì sao tên ông ở khắp nơi
Nguyễn Hữu Cảnh (còn được nhắc với tước Lễ Thành hầu) là võ tướng của chúa Nguyễn, quê gốc ở vùng Quảng Bình. Ông được giao kinh lược phía nam năm 1698, rồi những năm sau tiếp tục đi giải quyết xung đột ở vùng biên với Chân Lạp. Sử cũ chép ông mất năm 1700 trên đường trở về, khi đoàn quân dừng ở vùng Rạch Gầm – Sầm Giang thuộc Tiền Giang ngày nay.
Sau khi mất, ông được nhân dân nhiều nơi ở Nam Bộ lập đền thờ, phối thờ trong đình làng. Ở Biên Hoà có đền thờ ông trên Cù lao Phố; ở An Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang cũng có nơi thờ. Trong TP Hồ Chí Minh, tên ông được đặt cho một tuyến đường lớn ven sông và nhiều trường học.
Khi đọc về ông, nên tách hai lớp: lớp sử liệu (chức vụ, năm kinh lược, các đơn vị được lập) khá rõ; lớp truyền thuyết (chuyện hiển linh, chuyện ông chọn đất) thuộc về văn hoá dân gian. Cả hai đều đáng biết, nhưng chỉ lớp đầu dùng được khi bàn chuyện hành chính và mốc tuổi thành phố.
Vì sao lấy 1698 làm mốc tuổi Sài Gòn
Một thành phố có thể tính tuổi theo nhiều mốc: năm có người đến ở, năm có chợ, năm có thành luỹ, năm có chính quyền. Sài Gòn chọn mốc 1698 vì đó là năm đầu tiên có văn bản chép rõ việc lập đơn vị hành chính trên vùng đất này, với tên gọi, cấp bậc, quan lại cụ thể. Đây là lựa chọn của giới sử học và chính quyền thành phố khi tổ chức kỷ niệm 300 năm vào năm 1998.
Trước đó, trong thời Pháp và thời Việt Nam Cộng hoà, ít khi có ai tính tuổi Sài Gòn từ 1698; người Pháp thường kể lịch sử thành phố bắt đầu từ năm 1859 hoặc từ khi lập thành phố Sài Gòn. Việc chọn 1698 vì thế cũng là một cách kể lại lịch sử thành phố từ góc nhìn người Việt khai hoang, thay vì từ góc nhìn của thời thuộc địa.
Có người phản biện rằng chọn 1698 là bỏ qua lịch sử cư trú của người Khmer và lịch sử thương mại của người Hoa trước đó. Phản biện này có cơ sở. Cách hiểu cân bằng là: 1698 là mốc tuổi của đơn vị hành chính Gia Định – Sài Gòn, không phải mốc tuổi của vùng đất hay của con người ở đây.
Với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, mốc 1698 cũng có nghĩa: đó là năm đất của họ được ghi vào dinh Trấn Biên. Nhưng hai vùng này thường kể lịch sử của mình theo những mốc riêng, như năm lập tỉnh thời Pháp, năm tái lập tỉnh, chứ hiếm khi lấy 1698 làm năm sinh.
Dấu vết năm 1698 còn thấy ở đâu trong thành phố hôm nay
Không còn công trình nào của năm 1698 đứng nguyên vẹn, vì dinh thự thời đó chủ yếu làm bằng gỗ, tre, đất. Nhưng dấu vết của khung hành chính ấy vẫn còn trong tên gọi và trong cách thành phố chia vùng.
- Tên Tân Bình: từ tên huyện năm 1698, qua nhiều đời biến đổi, thành tên quận rồi tên phường Tân Bình hiện nay.
- Tên Gia Định: từ tên phủ thành tên trấn, tên thành, tên tỉnh, và từ 2025 là tên phường Gia Định ở khu Bình Thạnh cũ.
- Tên Phước Long: tên huyện phía Trấn Biên, nay còn trong tên phường Phước Long ở khu Thủ Đức cũ.
- Đình Minh Hương Gia Thạnh ở Chợ Lớn: nơi thờ tự của cộng đồng Minh Hương, dấu nối với xã Minh Hương lập thời này.
- Các con đường mang tên Nguyễn Hữu Cảnh, Trịnh Hoài Đức, Lê Quý Đôn: cách thành phố ghi nhớ người lập và người chép lịch sử vùng đất.
Lần sau đi qua phường Tân Bình hay phường Gia Định, bạn có thể nhớ rằng đó là hai cái tên đã đi cùng vùng đất này hơn ba thế kỷ, sống sót qua nhiều lần đổi ranh hơn hầu hết mọi địa danh khác của thành phố.
Câu hỏi thường gặp
Phủ Gia Định năm 1698 rộng đến đâu?
Không có bản đồ đo đạc chính xác của thời đó. Theo các nhà nghiên cứu, phủ Gia Định ban đầu bao gồm vùng Đồng Nai – Sài Gòn, tương ứng phần lớn TP Hồ Chí Minh hiện nay, Đồng Nai và một phần Long An, Tây Ninh cũ. Các vùng miền Tây được đưa vào dần trong thế kỷ 18.
Dinh Phiên Trấn đặt ở đâu?
Sử liệu chỉ ghi dinh Phiên Trấn ở xứ Sài Gòn, không ghi toạ độ cụ thể. Các nhà nghiên cứu đưa ra vài vị trí khả dĩ quanh vùng Tân Bình – Bến Nghé, nhưng chưa có khảo cổ xác định. Vì vậy những bài viết khẳng định chắc vị trí dinh nên được đọc thận trọng.
Người Việt đến Sài Gòn từ khi nào?
Từ đầu thế kỷ 17, người Việt đã vào khai phá dần ở vùng Mô Xoài, Đồng Nai, Bến Nghé. Không có năm cụ thể cho lớp người đến đầu tiên, vì đây là quá trình di dân tự phát kéo dài nhiều chục năm trước khi có phủ Gia Định.
Vì sao năm 1998 kỷ niệm 300 năm Sài Gòn?
Vì thành phố lấy năm 1698, năm Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, làm mốc khai sinh đơn vị hành chính. Ba trăm năm sau là 1998. Đây là mốc hành chính, không phủ nhận lịch sử cư trú và buôn bán đã có trên vùng đất này từ trước.
Bình Dương và Bà Rịa có thuộc phủ Gia Định không?
Có. Vùng Thủ Dầu Một và vùng Bà Rịa thuộc dinh Trấn Biên, tức huyện Phước Long của phủ Gia Định. Về sau cả hai thuộc trấn rồi tỉnh Biên Hoà, đến thời Pháp mới tách thành tỉnh riêng. Từ 1/7/2025, cả hai vùng cùng khu Gia Định xưa hợp lại trong TP Hồ Chí Minh.