Côn Đảo là tên gọi thời hiện đại của quần đảo xưa kia được người Việt gọi là Côn Lôn, người Mã Lai gọi là Pulau Kundur, và người châu Âu ghi là Poulo Condore. Đảo lớn nhất mang tên Côn Sơn. Từ 1/7/2025, khi Bà Rịa – Vũng Tàu nhập vào TP Hồ Chí Minh, huyện Côn Đảo trở thành Đặc khu Côn Đảo, đơn vị đặc khu duy nhất của thành phố.
Lịch sử của quần đảo là lịch sử của một trạm trên tuyến hàng hải: nơi thuyền buôn ghé lấy nước, nơi các cường quốc tranh nhau đặt đồn, rồi nơi người Pháp chọn làm nhà tù lớn nhất Đông Dương từ năm 1862. Ngày nay hệ thống di tích nhà tù, nghĩa trang Hàng Dương cùng Vườn quốc gia Côn Đảo là hai lý do chính khiến người ta ra đảo.
Bài này đi theo các tên gọi của Côn Đảo để kể lịch sử quần đảo ở mức tổng quan. Chuyện đi lại, lưu trú, mùa đi chi tiết thuộc các mục khác của trang.
Bốn tên gọi, bốn lớp lịch sử
Pulau Kundur. Trong tiếng Mã Lai, pulau là đảo, kundur là một loại bí (bí đao). Đây được xem là tên gọi sớm của các thương nhân đi biển vùng quần đảo Mã Lai – Nam Dương, những người đã đi qua tuyến biển này từ rất lâu trước người châu Âu.
Côn Lôn. Người Việt và các thư tịch chữ Hán gọi quần đảo là Côn Lôn, có thể là ghi âm từ tên Mã Lai. Chữ “Côn Lôn” cũng là tên một dãy núi trong văn hoá Trung Hoa, dễ làm người đọc nhầm nghĩa; ở đây nó chủ yếu là chữ ghi âm.
Poulo Condore. Các thương nhân và thuỷ thủ châu Âu ghép chữ pulau (poulo) với cách đọc Kundur thành Poulo Condore. Tên này phổ biến trên hải đồ và trong tài liệu phương Tây suốt thời thuộc địa, nên sách tiếng Pháp, tiếng Anh về nhà tù đều dùng tên này.
Côn Đảo, Côn Sơn. Tên Côn Đảo được dùng phổ biến từ thế kỷ 20 cho cả quần đảo, còn đảo lớn gọi là Côn Sơn. Thời 1956–1975 có giai đoạn quần đảo được gọi là Côn Sơn trong văn bản hành chính. Hôm nay, Côn Đảo là tên chính thức của đặc khu, Côn Sơn là tên đảo lớn.
Một trạm trên tuyến hàng hải
Côn Đảo nằm trên đường biển nối eo biển Malacca với biển Đông và các cảng Trung Hoa. Thuyền buôn thời buồm cần chỗ ghé lấy nước ngọt, củi, tránh gió mùa, và quần đảo với vịnh kín, có suối, có rừng là chỗ ghé tự nhiên. Vì thế ngay từ thế kỷ 17–18, nhiều thế lực đã muốn đặt chân lên đây.
Sự kiện thường được nhắc là việc Công ty Đông Ấn Anh dựng đồn trên đảo vào đầu thế kỷ 18, khoảng năm 1702, nhằm có một trạm buôn bán gần Trung Hoa. Đồn tồn tại chỉ vài năm; đến khoảng năm 1705, binh lính thuê người Makassar nổi dậy giết phần lớn người Anh trên đảo, và người Anh rút đi. Câu chuyện này có trong tài liệu tiếng Anh và được các nhà nghiên cứu Việt Nam dẫn lại.
Người Pháp cũng từng nhòm ngó quần đảo từ thế kỷ 18; Công ty Đông Ấn của Pháp có lúc cân nhắc đặt trạm ở đây nhưng không thành. Các chuyến tàu thám hiểm châu Âu ghé Côn Lôn để lấy nước và vẽ hải đồ, để lại nhiều mô tả về rừng, suối, cư dân thưa thớt trên đảo trong thế kỷ này.
Cuối thế kỷ 18, Nguyễn Ánh trong những năm bôn ba cũng từng có thời gian trú ở Côn Lôn. Trong các thoả thuận với người Pháp ở giai đoạn đó, quần đảo này đã được nhắc tới như một điểm có giá trị. Đến năm 1862, theo hiệp ước ký giữa triều Nguyễn và Pháp, Côn Lôn được nhượng cho Pháp cùng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
Nhà tù Côn Đảo: từ 1862 đến 1975
Ngay sau khi có quyền trên quần đảo năm 1862, người Pháp lập nhà tù ở Côn Đảo. Vị trí biệt lập giữa biển khiến nơi này thích hợp để giam giữ những người họ coi là nguy hiểm nhất. Trong hơn một thế kỷ, nhà tù được mở rộng thành một hệ thống nhiều trại giam, như các khu thường được gọi là Banh I, Banh II, Banh III, cùng các dãy biệt giam mà về sau nổi tiếng với tên “chuồng cọp”.
Sau năm 1954 và trong giai đoạn đến 1975, nhà tù tiếp tục được sử dụng và mở rộng. Rất nhiều người đã bị giam ở đây, trong đó có nhiều nhân vật lịch sử của thế kỷ 20. Hàng nghìn người đã mất trên đảo, được chôn ở các nghĩa trang, nổi bật là nghĩa trang Hàng Dương.
Hôm nay, hệ thống nhà tù và nghĩa trang được bảo tồn như một quần thể di tích quốc gia đặc biệt. Khi tham quan, phần lớn khách đi theo các tuyến có hướng dẫn, nghe kể về đời sống tù nhân và các sự kiện lịch sử gắn với từng khu. Đây là nơi cần đi với thái độ trang nghiêm, ăn mặc kín đáo, không đùa giỡn hay chụp ảnh tạo dáng phản cảm.
Một gợi ý cho người muốn hiểu sâu: trước khi ra đảo, đọc một vài hồi ký, khảo cứu về nhà tù Côn Đảo đã xuất bản, rồi đến Bảo tàng Côn Đảo đầu tiên trong chuyến đi. Có khung thời gian và bối cảnh, các trại giam, nghĩa trang sẽ không còn là những công trình rời rạc mà thành một câu chuyện liền mạch.
Côn Đảo thuộc đơn vị nào qua các thời kỳ
Đây là câu hỏi hay gặp, vì Côn Đảo đã đổi “chủ quản” nhiều lần. Một số mốc trong giai đoạn sau 1975 các nguồn ghi không hoàn toàn thống nhất, nên bảng chỉ ghi ở mức khái quát.
| Thời kỳ | Côn Đảo thuộc |
|---|---|
| Thời Nguyễn đến 1862 | Thuộc vùng Gia Định – Nam Kỳ, quản lý lỏng lẻo |
| 1862–1954 | Thuộc Pháp, là nhà tù của Nam Kỳ – Đông Dương |
| 1956–1975 | Là một đơn vị hành chính riêng gắn với nhà tù, có giai đoạn mang tên Côn Sơn |
| Sau 1975 | Có thời gian ngắn thuộc tỉnh ở miền Tây Nam Bộ |
| 1979–1991 | Thuộc Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo |
| 1991–6/2025 | Huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; không có cấp xã |
| Từ 7/2025 | Đặc khu Côn Đảo, thuộc TP Hồ Chí Minh |
Điểm đặc biệt: suốt giai đoạn là huyện, Côn Đảo không chia xã mà chính quyền huyện quản lý trực tiếp. Mô hình đặc khu từ 2025 vì thế không phải gộp đơn vị nào, chỉ chuyển cả huyện cũ thành một đơn vị cấp xã đặc biệt.
Đặc khu Côn Đảo từ 2025 nghĩa là gì
Khi cả nước bỏ cấp huyện, các huyện đảo được tổ chức lại thành đặc khu, một đơn vị hành chính ngang cấp xã nhưng có bộ máy và thẩm quyền phù hợp với vùng đảo. Côn Đảo là đặc khu duy nhất trong 168 đơn vị cấp xã của TP Hồ Chí Minh mới. Với người dân trên đảo, việc làm giấy tờ vẫn diễn ra ngay tại đảo như trước.
Về địa lý, đặc khu gồm khoảng mười sáu đảo lớn nhỏ, trong đó Côn Sơn là đảo lớn và là nơi tập trung dân cư, sân bay, cảng, khu di tích. Các đảo khác như hòn Bảy Cạnh, hòn Cau, hòn Tre Lớn chủ yếu là rừng, bãi biển và khu bảo tồn của Vườn quốc gia.
Việc trở thành một phần của TP Hồ Chí Minh không làm thay đổi tính chất của đảo: vẫn là vùng di tích lịch sử, vùng bảo tồn biển và rừng, và là điểm du lịch có giới hạn về sức chứa. Thay đổi chủ yếu là tên đơn vị trên giấy tờ và cơ quan cấp trên mà đặc khu báo cáo.
Với người đọc tài liệu, nên phân biệt ba lớp tên: Côn Lôn và Poulo Condore là tên lịch sử; Côn Sơn là tên đảo lớn; Côn Đảo là tên đơn vị hành chính hiện hành. Khi khai giấy tờ, chỉ dùng “Đặc khu Côn Đảo, TP Hồ Chí Minh”; các tên kia chỉ dùng khi kể chuyện, viết sử hoặc trích dẫn tư liệu.
Ai sống trên Côn Đảo hôm nay
Khác với nhiều đảo có làng chài lâu đời, cư dân Côn Đảo hiện nay phần lớn là người từ đất liền ra lập nghiệp sau năm 1975: cán bộ, nhân viên làm việc ở các cơ quan, Vườn quốc gia, ngư dân, người làm dịch vụ du lịch và gia đình của họ. Trước đó, dân số trên đảo gắn chủ yếu với bộ máy nhà tù, nên không hình thành một cộng đồng làng xã truyền thống như Phú Quý hay Lý Sơn.
Vì vậy văn hoá trên đảo mang dáng một thị trấn nhỏ của người nhập cư: chợ Côn Đảo, vài con đường chính ven biển, khu dân cư quanh thị trấn cũ, những quán ăn hải sản và dịch vụ cho khách. Nhịp sống chậm, phụ thuộc thời tiết và chuyến tàu, chuyến bay; mùa biển động hàng hoá từ đất liền có thể về chậm, giá cả vì thế cao hơn đất liền.
Sau khi thành đặc khu thuộc TP Hồ Chí Minh, người dân đảo vẫn làm giấy tờ ngay tại đặc khu. Điều thay đổi trong cảm nhận là “thành phố” giờ gồm cả một hòn đảo xa bờ hơn trăm cây số, và người Côn Đảo trên giấy tờ là cư dân TP Hồ Chí Minh, một chi tiết nhiều người ở đảo vẫn còn thấy lạ.
Côn Đảo bên ngoài di tích: rừng, biển và rùa
Ngoài di tích nhà tù, Côn Đảo có Vườn quốc gia bảo vệ rừng nguyên sinh, rạn san hô, thảm cỏ biển và bãi đẻ của rùa biển. Hòn Bảy Cạnh là nơi rùa biển lên đẻ trứng nhiều nhất, có chương trình cứu hộ và thả rùa con trong mùa sinh sản, thường vào khoảng giữa năm. Khách muốn xem phải đăng ký với Vườn quốc gia và tuân thủ quy định về ánh sáng, khoảng cách.
Vùng biển Côn Đảo còn có bò biển (dugong), loài hiếm ở Việt Nam, sống nhờ thảm cỏ biển. Rạn san hô quanh các đảo nhỏ là điểm lặn ngắm, nhưng nhiều khu vực bị hạn chế để bảo vệ. Rừng trên đảo có nhiều loài cây gỗ quý và động vật đặc hữu như sóc đen Côn Đảo.
Lớp tên gọi tự nhiên của đảo cũng thú vị: các bãi như Đầm Trầu, bãi Nhát, bãi Đất Dốc, hay các hòn mang tên theo hình dáng như hòn Bảy Cạnh, hòn Cau, hòn Trứng. Những tên này cho biết người đặt tên là ngư dân và người sống trên đảo, nhìn đảo từ mặt biển.
Câu hỏi thường gặp
Côn Đảo bây giờ thuộc tỉnh nào?
Từ 1/7/2025, Côn Đảo là Đặc khu Côn Đảo thuộc TP Hồ Chí Minh, do tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhập vào thành phố. Trước đó từ năm 1991 Côn Đảo là huyện của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Côn Lôn và Côn Đảo có phải là một?
Phải. Côn Lôn là tên người Việt và thư tịch chữ Hán xưa dùng cho quần đảo, có thể là ghi âm từ tên Mã Lai Pulau Kundur. Côn Đảo là tên dùng phổ biến từ thế kỷ 20 và là tên chính thức hiện nay.
Poulo Condore nghĩa là gì?
Poulo Condore là cách người châu Âu ghi tên Mã Lai Pulau Kundur, trong đó pulau nghĩa là đảo và kundur là một loại bí. Tên này phổ biến trên hải đồ phương Tây và trong tài liệu thời Pháp về nhà tù.
Nhà tù Côn Đảo được lập năm nào?
Nhà tù được người Pháp lập năm 1862, ngay sau khi quần đảo thuộc quyền Pháp theo hiệp ước năm đó. Nhà tù hoạt động hơn một thế kỷ, đến năm 1975, và nay là quần thể di tích quốc gia đặc biệt.
Côn Đảo có bao nhiêu đảo?
Quần đảo Côn Đảo thường được mô tả gồm khoảng mười sáu đảo lớn nhỏ. Côn Sơn là đảo lớn nhất, nơi tập trung dân cư, sân bay và di tích. Các đảo khác chủ yếu là rừng và bãi biển thuộc Vườn quốc gia Côn Đảo.
Đặc khu khác gì với xã, phường?
Đặc khu là đơn vị hành chính cấp xã đặc thù cho vùng đảo, có bộ máy và thẩm quyền phù hợp hơn với nhu cầu quản lý biển đảo. Người dân làm giấy tờ tại đặc khu như ở phường xã; chi tiết thẩm quyền nên kiểm theo quy định hiện hành.