Sài Gòn từng có hai toà thành lớn: thành Bát Quái (còn gọi thành Quy, thành Gia Định) xây năm 1790 dưới thời Nguyễn Ánh, và thành Phụng xây năm 1836 dưới thời Minh Mạng. Thành Bát Quái bị phá sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833–1835); thành Phụng nhỏ hơn, dựng lại ở phía đông bắc, rồi bị quân Pháp chiếm và phá năm 1859. Ngày nay không còn đoạn tường thành nào đứng trên mặt đất.
Theo các nhà nghiên cứu địa danh, khu thành Bát Quái nằm trong vùng giới hạn đại khái bởi các đường Lê Thánh Tôn, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Đình Chiểu và Nam Kỳ Khởi Nghĩa hôm nay, tức một khoảng lớn của quận 1 và quận 3 cũ. Nếu bạn từng đi qua khu Nhà thờ Đức Bà, Thảo Cầm Viên, Dinh Độc Lập, bạn đã đi gần hoặc ngang qua nền thành xưa.
Bài này kể ngắn lịch sử hai toà thành, giải thích vì sao thành bị phá, và chỉ ra những dấu vết gián tiếp mà người đi bộ còn đọc được trong lòng phố.
Thành Bát Quái năm 1790: vì sao xây và xây thế nào
Cuối thế kỷ 18, Nguyễn Ánh giành lại Gia Định trong cuộc chiến với Tây Sơn và chọn nơi này làm căn cứ. Năm 1790, ông cho đắp một toà thành lớn ở vùng đất cao phía bắc rạch Bến Nghé. Thành có tám cửa, hình dáng nhiều cạnh nên dân gian gọi là thành Bát Quái; trong sách vở còn gọi là thành Quy (rùa) vì bố cục gợi hình mai rùa.
Nhiều tư liệu ghi thành được thiết kế theo lối thành phòng thủ châu Âu kiểu Vauban, có sự tham gia của các sĩ quan người Pháp phục vụ Nguyễn Ánh, trong đó tên Olivier de Puymanel hay được nhắc. Tường thành đắp bằng đất, kè đá ong, có hào nước bao quanh. Lực lượng dân phu đông đảo được huy động, và thành hoàn thành trong thời gian ngắn so với quy mô.
Từ năm 1802, khi nhà Nguyễn đóng đô ở Huế, thành ở Sài Gòn trở thành trung tâm của Gia Định thành, đơn vị cai quản toàn Nam Bộ. Các tổng trấn, trong đó nổi tiếng nhất là Lê Văn Duyệt, điều hành mọi việc từ đây. Thành Bát Quái vì thế không chỉ là công trình quân sự mà còn là trung tâm quyền lực của cả vùng đất phía nam trong ba thập niên đầu thế kỷ 19.
Biến Lê Văn Khôi và lệnh san bằng thành
Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ cấp Gia Định thành, chia Nam Bộ thành các tỉnh trực thuộc triều đình, đồng thời mạnh tay chỉnh đốn những người từng thân cận tổng trấn Lê Văn Duyệt vừa qua đời. Năm 1833, Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt, khởi binh chiếm thành Gia Định. Cuộc nổi dậy lan ra nhiều tỉnh, rồi co về giữ thành.
Quân triều đình vây thành gần hai năm. Đến năm 1835 thành bị hạ, những người cố thủ bị xử nặng; các tư liệu đều nhắc đến một ngôi mộ tập thể gọi là “mả Ngụy” sau sự kiện này. Minh Mạng hạ lệnh phá bỏ thành Bát Quái, vì toà thành quá lớn, quá kiên cố, từng thành chỗ dựa cho một cuộc chống đối kéo dài.
Đối với người đọc hôm nay, điều đáng nhớ không phải phán xét ai đúng ai sai, mà là hệ quả đô thị: Sài Gòn mất toà thành lớn nhất của mình chỉ 45 năm sau khi xây, và trung tâm hành chính phải dời sang một toà thành nhỏ hơn. Lượng đá ong, gạch, gỗ của thành cũ được tận dụng cho công trình khác, nên chính vật liệu của thành Bát Quái cũng tản đi khắp nơi. Lăng Lê Văn Duyệt ở Bà Chiểu, mà dân gian quen gọi là Lăng Ông, cũng trải qua thời kỳ bị san phẳng rồi về sau mới được phục dựng.
Thành Phụng năm 1836 và trận năm 1859
Năm 1836, triều đình cho xây thành mới ở phía đông bắc nền thành cũ, quy mô nhỏ hơn, tường cao và dày, gọi là thành Phụng (hay thành Gia Định mới). Thành này là lỵ sở của tỉnh Gia Định, có kho lương, kho vũ khí, nơi đóng quân của tỉnh.
Tháng 2 năm 1859, liên quân Pháp – Tây Ban Nha từ cửa biển Cần Giờ ngược sông Sài Gòn tấn công. Thành Phụng bị chiếm sau trận đánh ngắn. Không đủ quân giữ một toà thành lớn giữa vùng đất còn kháng cự, người Pháp cho đốt kho và phá thành ngay trong năm đó. Từ đây, câu chuyện Sài Gòn chuyển sang thời kỳ thuộc địa.
Trận năm 1859 cho thấy điểm yếu của mọi toà thành ở Gia Định: chúng được thiết kế để chống lại quân bộ, trong khi đối phương đến bằng tàu chiến có pháo tầm xa trên sông. Một toà thành đứng sát sông lớn, không có hạm đội đủ sức chặn ở cửa biển, gần như không thể giữ lâu. Bài học này về sau được nhắc nhiều trong các nghiên cứu quân sự về cuộc chiến ở Nam Kỳ.
Trên một phần nền đất này, người Pháp về sau dựng doanh trại và các công trình quân sự. Các công trình đó cũng thay đổi nhiều lần trong thế kỷ 20. Do đó, nếu có ai chỉ một bức tường cũ trong khu này và nói đó là “tường thành Gia Định”, bạn nên hỏi lại nguồn: hầu hết công trình còn thấy là của thời sau.
Dòng thời gian hai toà thành
Các mốc dưới đây là những mốc được giới nghiên cứu dẫn thống nhất. Những chi tiết như ngày tháng cụ thể, số dân phu, chiều cao tường thì các tư liệu khác nhau, nên không đưa vào.
| Năm | Sự kiện |
|---|---|
| 1790 | Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái ở Gia Định |
| 1802 | Nhà Nguyễn thành lập; Gia Định trở thành trung tâm cai quản phía nam |
| Đầu thế kỷ 19 | Gia Định thành có tổng trấn; Lê Văn Duyệt giữ chức này nhiều năm |
| 1832 | Minh Mạng bỏ cấp Gia Định thành, lập các tỉnh |
| 1833–1835 | Lê Văn Khôi chiếm thành, quân triều đình vây rồi hạ thành |
| Sau 1835 | Thành Bát Quái bị san bằng |
| 1836 | Xây thành Phụng, nhỏ hơn, ở phía đông bắc |
| 1859 | Liên quân Pháp – Tây Ban Nha chiếm và phá thành Phụng |
Hai toà thành tổng cộng tồn tại chưa đầy 70 năm, nhưng đã định hình vị trí trung tâm hành chính của Sài Gòn cho tới tận bây giờ: khu vực quanh nền thành cũ vẫn là nơi đặt nhiều cơ quan đầu não của thành phố.
Chợ Bến Thành: cái tên còn lại của thành Gia Định
Dấu vết rõ nhất của thành Gia Định không nằm trong bảo tàng mà nằm trong một cái tên ai cũng biết: Bến Thành. Theo cách giải thích được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận, đây là “bến của thành”, tức bến sông nơi binh lính, quan lại và hàng hoá ra vào thành Gia Định. Chợ mọc bên bến ấy được gọi là chợ Bến Thành, có từ trước thời Pháp.
Chợ cũ nằm gần bờ sông, cạnh rạch Bến Nghé. Sau khi chiếm Sài Gòn, người Pháp dựng chợ mới bằng vật liệu kiên cố ở gần vị trí cũ, rồi đầu thế kỷ 20 lấp một vùng ao đầm để xây chợ Bến Thành hiện nay, khánh thành khoảng năm 1914. Như vậy chợ đã dời chỗ ít nhất một lần, nhưng vẫn giữ tên gọi gắn với toà thành đã mất.
Từ 2025, tên Bến Thành còn là tên một phường gồm các phường Bến Thành, Phạm Ngũ Lão và một phần Nguyễn Thái Bình, Cầu Ông Lãnh của quận 1 cũ. Thành Gia Định không còn viên gạch nào, nhưng tên của nó vẫn được đọc lên mỗi ngày ở ga metro, trong lời rao của người bán hàng và trên giấy tờ hành chính.
Đọc dấu vết thành cũ khi đi bộ trong phố
Đường Đinh Tiên Hoàng. Trục đường đi từ hướng Đa Kao xuống phía bến sông được nhiều nhà nghiên cứu xem là gần với một cạnh của thành Bát Quái. Đi trên đường này, bạn đang men theo mép phía đông của khu thành cũ.
Độ cao nền đất. Thành được đặt trên vùng đất cao hơn bến sông. Đi bộ từ bờ sông Sài Gòn lên phía Nhà thờ Đức Bà, Dinh Độc Lập, bạn sẽ thấy đường hơi dốc lên, dù không nhiều. Đó là lý do khu này ít ngập hơn vùng ven rạch.
Mạng đường thẳng góc. Khi người Pháp quy hoạch Sài Gòn, họ vẽ lưới đường thẳng góc lên vùng đất trống sau khi phá thành. Lưới phố vuông vắn của quận 1 cũ phần nào là kết quả của việc nền thành đã được dọn sạch.
Tên gọi Gia Định. Tên thành không còn trên khu quận 1 nhưng còn ở phường Gia Định mới (phần lớn đất Bình Thạnh cũ, quanh Lăng Ông Bà Chiểu). Cái tên đã đi về phía bắc theo lỵ sở tỉnh Gia Định thời sau, không ở lại chỗ toà thành.
Bảo tàng. Các mô hình, bản vẽ và hiện vật liên quan đến thành Gia Định có thể xem ở Bảo tàng Lịch sử TP Hồ Chí Minh trong Thảo Cầm Viên và Bảo tàng TP Hồ Chí Minh. Đây là cách chắc nhất để thấy hình dáng thành, thay vì đoán từ đường phố.
Vì sao Sài Gòn không giữ được thành như Huế
Người ra Huế thấy Kinh thành còn gần như nguyên vẹn, nên hay hỏi vì sao thành Gia Định không còn gì. Câu trả lời nằm ở ba yếu tố. Thứ nhất, thành Bát Quái bị chính triều đình phá năm 1835 vì lý do chính sự, trước cả khi người Pháp đến. Thứ hai, thành Phụng bị phá ngay trong năm bị chiếm vì đối phương không muốn để lại một công trình phòng thủ.
Thứ ba, và quan trọng nhất về lâu dài, Sài Gòn là thành phố thương mại phát triển rất nhanh. Đất ở trung tâm có giá trị lớn, nên mọi công trình không còn dùng được đều bị thay thế. Huế giữ được Kinh thành một phần vì sau năm 1945 thành phố ít chịu sức ép đô thị hoá như Sài Gòn.
Điều này giải thích vì sao di sản Sài Gòn phần lớn là công trình thời Pháp và thời sau: nhà thờ, bưu điện, toà nhà hành chính, chợ. Dấu vết thời Nguyễn chủ yếu còn trong chùa, đình, lăng mộ ở vùng ven, như chùa Giác Lâm, Lăng Ông Bà Chiểu, đình Minh Hương Gia Thạnh, chứ không ở khu trung tâm.
Với TP Hồ Chí Minh mở rộng sau 2025, bức tranh này càng rõ. Bình Dương cũ và Bà Rịa – Vũng Tàu cũ cũng không có toà thành thời Nguyễn nào còn đứng; dấu tích thời ấy nằm ở đình làng, chùa cổ như chùa Hội Khánh ở Thủ Dầu Một, các lăng miếu ven biển ở Vũng Tàu. Người muốn tìm lại Gia Định thế kỷ 19 vì thế phải đi ra vùng ven và đọc kiến trúc tôn giáo, dân gian, thay vì tìm thành quách ở trung tâm.
Câu hỏi thường gặp
Thành Bát Quái nằm ở đâu trên bản đồ hiện nay?
Theo các nhà nghiên cứu, khu thành nằm trong vùng giới hạn đại khái bởi các đường Lê Thánh Tôn, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Đình Chiểu và Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thuộc quận 1 và quận 3 cũ. Ranh cụ thể từng góc thành vẫn còn ý kiến khác nhau vì không còn dấu tích trên mặt đất.
Thành Bát Quái và thành Quy có phải một không?
Phải. Thành xây năm 1790 có nhiều tên: thành Gia Định, thành Bát Quái vì có tám cửa và nhiều cạnh, thành Quy vì bố cục gợi hình con rùa. Thành Phụng là toà thành khác, xây năm 1836, nhỏ hơn và nằm ở phía đông bắc.
Có còn viên gạch, đá nào của thành cũ không?
Một số hiện vật như đá ong, gạch, súng thần công được cho là liên quan đến thành Gia Định đang lưu ở các bảo tàng. Ngoài phố thì gần như không còn gì có thể xác định chắc là của thành, vì nền đất đã bị san phẳng và xây chồng nhiều lớp.
Lăng Ông Bà Chiểu có liên quan gì đến thành Gia Định?
Lăng Ông là nơi an táng Lê Văn Duyệt, người từng giữ chức tổng trấn Gia Định thành và làm việc trong thành Bát Quái. Lăng nằm ở vùng Bà Chiểu, nay thuộc phường Gia Định, cách nền thành cũ vài cây số về phía bắc.
Năm 1859 Pháp đánh vào thành Gia Định từ hướng nào?
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đi từ cửa biển Cần Giờ, ngược sông Lòng Tàu và sông Sài Gòn, phá các đồn ven sông rồi tiến vào thành Phụng. Đường sông là con đường duy nhất cho tàu chiến lớn tiếp cận Sài Gòn thời đó.
Muốn xem mô hình thành Gia Định thì đi đâu?
Bạn có thể đến Bảo tàng Lịch sử TP Hồ Chí Minh nằm trong khuôn viên Thảo Cầm Viên, hoặc Bảo tàng TP Hồ Chí Minh. Nên kiểm lịch mở cửa trước khi đi vì các bảo tàng có ngày nghỉ và thời gian trưng bày chuyên đề thay đổi.