TP.HCM Mới
Lịch sử và tên gọi

Lịch sử Chợ Lớn: từ phố Đề Ngạn của người Hoa đến thành phố Chợ Lớn và phường Chợ Lớn

Chợ Lớn hình thành khi người Hoa dời về bờ rạch cuối thế kỷ 18, thành thành phố riêng thời Pháp rồi nhập vào Sài Gòn. Tên Chợ Lớn nay còn ở phường nào.

Low angle shot along a narrow old shophouse street with weathered yellow facades and wooden shutters, hanging red lanterns without any markings, motorbikes parked below, late afternoon sun

Chợ Lớn hình thành vào cuối thế kỷ 18, khi người Hoa từ Cù lao Phố (Biên Hoà) và Mỹ Tho dời về lập phố buôn bán bên bờ rạch phía tây Sài Gòn, gọi là Đề Ngạn. Nhờ đường thuỷ nối với miền Tây, khu phố nhanh chóng thành chợ đầu mối lúa gạo và hàng hoá lớn nhất Nam Bộ. Thời Pháp, Chợ Lớn là một thành phố riêng, đến thế kỷ 20 mới nhập dần với Sài Gòn.

Từ 1/7/2025, tên Chợ Lớn trở thành tên chính thức của một phường: phường Chợ Lớn gồm các phường 11, 12, 13, 14 của quận 5 cũ. Nhưng Chợ Lớn trong lời nói của người Sài Gòn rộng hơn nhiều, trải qua quận 5, quận 6, một phần quận 10, quận 11 cũ, tức cả vùng phố người Hoa.

Bài này đi qua các giai đoạn hình thành Chợ Lớn, giải thích vì sao khu này giàu lên nhanh, và chỉ ra những dấu vết lịch sử bạn còn gặp khi đi bộ trong phố hôm nay.

Vì sao người Hoa dời về đây cuối thế kỷ 18

Từ cuối thế kỷ 17, người Hoa đã lập thương cảng Cù lao Phố trên sông Đồng Nai và lập phố ở Mỹ Tho. Trong những năm chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn từ thập niên 1770, Cù lao Phố bị tàn phá nặng, nhiều thương nhân người Hoa mất cơ nghiệp. Họ tìm một chỗ an toàn hơn, gần trung tâm quyền lực ở Gia Định, và chọn vùng đất ven rạch phía tây Bến Nghé.

Chỗ đất mới có lợi thế giao thông rất lớn. Rạch Bến Nghé (nay là đoạn kênh Tàu Hũ – Bến Nghé) nối Sài Gòn với hệ thống kênh rạch đi về Long An, Tiền Giang và các tỉnh miền Tây. Lúa gạo, hàng nông sản từ miền Tây theo ghe về đây, hàng hoá từ tàu biển theo sông Sài Gòn vào. Khu phố người Hoa đứng đúng điểm nối của hai dòng hàng đó.

Người Hoa đắp bờ kè dọc rạch để làm bến, nên gọi phố mình là Đề Ngạn, nghĩa là bờ đê. Người Việt quen gọi khu này là Chợ Lớn để phân biệt với các chợ nhỏ quanh Bến Nghé. Hai cái tên song song tồn tại, và đến nay người Hoa vẫn dùng tên Đề Ngạn, đọc theo giọng các phương ngữ của họ.

Một yếu tố ít được nhắc là sự bảo trợ của chính quyền. Chúa Nguyễn, rồi vua Gia Long, cần nguồn thu thuế và nguồn hàng từ thương nhân người Hoa để nuôi quân và giữ vùng đất mới. Vì vậy người Hoa ở Đề Ngạn được tổ chức theo bang, có người đứng đầu chịu trách nhiệm với quan sở tại, được phép giữ tục lệ riêng. Nhờ khung quản lý đó, phố buôn ổn định và lớn nhanh hơn nhiều so với một khu chợ tự phát.

Năm nhóm người Hoa và cách họ tổ chức phố

Năm bang. Người Hoa ở Chợ Lớn chia theo nguồn gốc quê quán và phương ngữ: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ (Khách Gia). Mỗi bang có hội quán, nghề thế mạnh và khu phố tập trung riêng, dù ranh giới không tuyệt đối.

Hội quán là trung tâm. Hội quán vừa là nơi thờ tự, vừa là nơi họp bàn việc chung, lo ma chay, lập trường học, giúp người mới đến. Những hội quán như Tuệ Thành, Nghĩa An, Ôn Lăng, Hà Chương, Quỳnh Phủ đến nay vẫn đứng trên các trục Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Lão Tử.

Người Minh Hương. Lớp người Hoa đến sớm, lấy vợ Việt và định cư lâu đời được gọi là Minh Hương. Đình Minh Hương Gia Thạnh ở Chợ Lớn là nơi thờ tự của cộng đồng này, nhiều tư liệu ghi xây dựng vào cuối thế kỷ 18.

Phố theo nghề. Như phố cổ Hà Nội, Chợ Lớn có những dãy phố theo nghề: thuốc bắc trên đường Hải Thượng Lãn Ông, vải và đồ may, đồ nhựa, đồ gia dụng, giấy, đồ cúng ở các khu riêng. Nhiều dãy vẫn giữ nghề đến nay, dù hàng hoá đã khác.

Chợ Lớn qua các thời kỳ hành chính

Ranh và tên gọi của Chợ Lớn thay đổi nhiều lần. Bảng dưới đây tóm các mốc chính ở mức khái quát; ngày tháng cụ thể của từng văn bản thời Pháp bạn nên kiểm thêm trong các công trình nghiên cứu.

Thời kỳTình trạng của Chợ Lớn
Cuối thế kỷ 18 – giữa thế kỷ 19Phố chợ Đề Ngạn của người Hoa, thuộc huyện Tân Bình, tỉnh Gia Định
Thời Pháp, cuối thế kỷ 19Được lập thành thành phố Chợ Lớn riêng, có hội đồng thành phố, tách khỏi Sài Gòn
Thập niên 1930Pháp gộp Sài Gòn và Chợ Lớn thành một vùng hành chính chung (vùng Sài Gòn – Chợ Lớn)
1955–1975Nhập vào Đô thành Sài Gòn, khu Chợ Lớn chủ yếu nằm trong các quận 5, 6, 10, 11
1976–6/2025Không còn là đơn vị riêng, tên Chợ Lớn dùng trong dân gian và tên chợ, bưu điện, bệnh viện
Từ 7/2025Phường Chợ Lớn (các phường 11–14 quận 5 cũ) mang lại tên chính thức

Điểm đáng chú ý là Chợ Lớn từng là thành phố ngang hàng Sài Gòn. Hai thành phố nối với nhau bằng đường bộ, đường sắt nhỏ và kênh rạch, rồi lớn dần cho tới khi dính liền thành một khối đô thị.

Chợ Bình Tây và vai trò đầu mối

Biểu tượng dễ nhận ra nhất của Chợ Lớn hôm nay là chợ Bình Tây, công trình do thương nhân Quách Đàm bỏ vốn xây vào cuối thập niên 1920 và hoàn thành khoảng năm 1930. Chợ có mái ngói kiểu Hoa, sân trong, tháp đồng hồ ở cổng chính, nằm ở khu quận 6 cũ, nay thuộc phường Bình Tây. Đây là chợ bán sỉ, nhiều tiểu thương ở các tỉnh miền Tây và Đông Nam Bộ lấy hàng ở đây.

Trước khi có chợ Bình Tây, Chợ Lớn đã có những chợ đầu mối khác, và cả vùng là một chợ khổng lồ chạy dọc kênh. Thế mạnh lớn nhất của Chợ Lớn trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 là lúa gạo: các nhà máy xay xát dọc kênh Tàu Hũ, kênh Đôi, các bến ghe chở lúa từ miền Tây về, các nhà buôn người Hoa nắm khâu thu mua và xuất khẩu.

Ngày nay vai trò đầu mối lúa gạo đã chuyển đi nơi khác, nhưng Chợ Lớn vẫn là trung tâm bán sỉ hàng tiêu dùng, vải, đồ nhựa, hàng khô, thuốc bắc. Người buôn bán nhỏ ở cả ba vùng TP Hồ Chí Minh mới, từ Thủ Dầu Một tới Bà Rịa, vẫn quen câu “xuống Chợ Lớn lấy hàng”.

Câu chuyện quanh ông Quách Đàm cũng là một lát cắt của Chợ Lớn đầu thế kỷ 20: một thương nhân gốc Triều Châu đi lên từ buôn bán nhỏ, làm giàu nhờ thu mua da, lông, nông sản, rồi bỏ vốn xây chợ và hiến đất cho thành phố quản lý. Tượng của ông từng đặt trong sân chợ. Những gia tộc buôn lớn như vậy chi phối giá lúa gạo, vận tải và tín dụng của cả Nam Kỳ trong nhiều thập niên.

Kênh Tàu Hũ, kênh Đôi và đường thuỷ làm nên Chợ Lớn

Không thể hiểu Chợ Lớn nếu bỏ qua kênh rạch. Kênh Tàu Hũ chạy dọc phía nam khu phố, nối với rạch Bến Nghé ra sông Sài Gòn và nối về phía tây với các kênh đi miền Tây. Thời Pháp đào thêm kênh Đôi, kênh Tẻ để tăng năng lực vận tải và giảm tải cho kênh cũ. Ghe thuyền đông đến mức bến kênh là cảnh quen thuộc trong ảnh cũ.

Từ giữa thế kỷ 20, vận tải đường bộ thay thế dần ghe thuyền, các bến kênh bớt đông, nhiều đoạn kênh ô nhiễm nặng vì dân cư sống chen trên mặt nước. Những đợt cải tạo kênh Tàu Hũ – Bến Nghé từ cuối thế kỷ 20 đã dời các dãy nhà sàn, làm kè và đường ven kênh. Đi dọc kênh hôm nay bạn sẽ thấy đường Bến Bình Đông, Bến Hàm Tử, Võ Văn Kiệt, tên đường còn giữ chữ “bến” như dấu vết thời đường thuỷ.

Người lớn tuổi ở Chợ Lớn còn nhớ thời ghe chở trái cây, gạo, củi cập bến ngay trước nhà. Dịp gần Tết, đoạn kênh trước bến Bình Đông vẫn có ghe chở hoa từ miền Tây lên, như một lần trở lại ngắn ngủi của nếp đô thị sông nước.

Chợ Lớn hôm nay: còn gì và đã đổi gì

Nhìn từ trên cao, Chợ Lớn hôm nay không khác các khu nội đô khác là bao: nhà ống nhiều tầng, đường đông xe, cao ốc mọc lên dọc Võ Văn Kiệt và Hồng Bàng. Nhưng đi xuống mặt đường thì khác ngay: những dãy nhà phố hai ba tầng có ban công sắt, mái ngói âm dương, hẻm buôn sỉ chất hàng tới trần, tiếng Quảng Đông, Triều Châu lẫn tiếng Việt trong cùng một câu mặc cả.

Phần đổi nhiều nhất là cư dân. Nhiều gia đình người Hoa đã dọn ra quận mới, ra nước ngoài hoặc cho thuê mặt bằng, trong khi người Việt từ các tỉnh vào buôn bán, làm công ở các xưởng nhỏ. Các trường dạy tiếng Hoa, các hội quán vẫn sinh hoạt, nhưng số người nói rành phương ngữ quê gốc ít dần theo từng thế hệ.

Phần còn giữ được bền nhất là nhịp buôn bán và lịch lễ. Sáng sớm vẫn là giờ xe hàng; rằm tháng Giêng các hội quán vẫn đông, có múa lân; Tết Đoan Ngọ, Trung thu vẫn có bánh, đèn, phố hàng mã. Muốn hiểu Chợ Lớn, nên đến vào những dịp này hơn là ngày thường, vì đó là lúc cộng đồng hiện diện đầy đủ nhất.

Đi bộ trong Chợ Lớn để thấy lịch sử

Một buổi sáng đi bộ đủ để bạn gặp nhiều lớp thời gian của Chợ Lớn. Gợi ý dưới đây chỉ là các điểm có thật và dễ tiếp cận; giờ mở cửa của hội quán, đình, chùa có thể thay đổi, nên hỏi người trông coi.

  • Trục Nguyễn Trãi: các hội quán Tuệ Thành, Nghĩa An, Hà Chương đứng gần nhau; nên đi buổi sáng khi khói nhang chưa dày, ánh sáng đẹp.
  • Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo: kiến trúc đình kết hợp lối Hoa, nhiều hoành phi câu đối cổ.
  • Đường Hải Thượng Lãn Ông: phố thuốc bắc với mùi thảo dược đặc trưng, các tiệm mặt tiền kiểu cũ.
  • Chợ Bình Tây: nên vào sân trong ngắm kiến trúc, đi sớm để thấy cảnh hàng sỉ lên xe.
  • Nhà thờ Cha Tam (nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê) trên đường Học Lạc: nhà thờ có nét kiến trúc pha Hoa, gắn với giáo dân người Hoa.
  • Đường ven kênh Tàu Hũ: đi chiều tối để thấy nhịp phố đổi từ bán sỉ sang ăn uống.

Khi đi, nên mặc kín đáo khi vào nơi thờ tự, xin phép trước khi chụp người, và để ý xe hàng chạy ra vào các hẻm buôn sỉ, nhất là buổi sáng.

Câu hỏi thường gặp

Chợ Lớn là quận mấy?

Trước 7/2025, khu Chợ Lớn trong cách nói của người Sài Gòn trải qua quận 5, quận 6 và một phần quận 10, quận 11. Từ 1/7/2025 có phường Chợ Lớn chính thức, gồm các phường 11, 12, 13, 14 của quận 5 cũ; các khu khác của Chợ Lớn cũ thuộc những phường mới tên khác như Chợ Quán, An Đông, Bình Tây.

Vì sao gọi là Chợ Lớn?

Người Việt gọi khu phố chợ của người Hoa ở phía tây Sài Gòn là Chợ Lớn để phân biệt với các chợ nhỏ quanh Bến Nghé. Người Hoa gọi khu này là Đề Ngạn, nghĩa là bờ đê, vì họ đắp kè dọc rạch làm bến. Người Pháp ghi theo tiếng Việt thành Cholon.

Chợ Lớn và Sài Gòn nhập làm một từ khi nào?

Việc nhập diễn ra từng bước. Thời Pháp, hai nơi là hai thành phố riêng; đến thập niên 1930 được gộp vào một vùng hành chính chung. Từ giữa thập niên 1950, Chợ Lớn nằm trong Đô thành Sài Gòn. Sau 1976 cả hai thuộc TP Hồ Chí Minh.

Chợ Bình Tây có phải là Chợ Lớn không?

Chợ Bình Tây thường được người dân gọi là chợ Lớn mới, vì nó là chợ lớn nhất của khu Chợ Lớn hiện nay. Nhưng Chợ Lớn là tên cả vùng phố người Hoa, còn chợ Bình Tây chỉ là một công trình trong vùng đó, nằm ở khu quận 6 cũ.

Người Hoa ở Chợ Lớn đến từ đâu?

Phần lớn có gốc từ các tỉnh ven biển miền Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, đến qua nhiều đợt trong ba thế kỷ. Lớp đầu dời về từ Cù lao Phố và Mỹ Tho cuối thế kỷ 18, các lớp sau đến trực tiếp bằng tàu trong thời Pháp.

Đi Chợ Lớn từ trung tâm Sài Gòn bằng cách nào?

Bạn có thể đi xe máy, taxi hoặc xe buýt theo trục Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi hay Võ Văn Kiệt. Khoảng cách từ chợ Bến Thành tới khu hội quán ở Chợ Lớn chỉ vài cây số, nhưng giờ cao điểm đường đông, nên đi sớm buổi sáng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.