Bờ biển TP.HCM mới có bốn kiểu rõ rệt: bãi bồi bùn và rừng ngập mặn ở Cần Giờ; bán đảo núi đá xen bãi cát ở Vũng Tàu; dải cát dài, đồi cát và rừng ven biển từ Long Hải, Phước Hải qua Hồ Tràm, Hồ Cốc tới Bình Châu; và bờ đá, bãi cát nhỏ, rạn san hô của quần đảo Côn Đảo. Mỗi kiểu do một tổ hợp khác nhau giữa phù sa sông, sóng gió và đá nền tạo nên.
Nhiều đoạn bờ biển của thành phố đã ghi nhận xói lở trong những năm gần đây, nhất là ở những bãi cát hứng sóng gió mùa đông bắc và ở bờ bồi Cần Giờ. Hiểu bờ biển được tạo thành thế nào giúp đọc đúng những tin về xói lở, về kè biển, và giúp người mua đất, xây nhà ven biển tránh những quyết định đắt giá.
Bài này viết về bờ biển như một phần của địa lý tự nhiên. Chuyện tắm biển ở đâu, đi cuối tuần ra sao thuộc phần điểm đến của trang.
Cần Giờ: bờ biển do sông bồi
Bờ biển Cần Giờ là phần mép ngoài của vùng châu thổ nhỏ do các nhánh sông Đồng Nai – Sài Gòn bồi nên. Phù sa từ Soài Rạp, Lòng Tàu, Đồng Tranh đổ ra biển làm nước ven bờ đục màu nâu, bãi thoai thoải và nhiều bùn. Lúc triều rút, bãi lộ ra rất xa, có chỗ đi bộ hàng trăm mét mới tới mép nước, lộ cả những bãi nghêu, bãi hàu của người dân.
Rừng ngập mặn phía sau bãi là phần giữ đất quan trọng nhất của kiểu bờ này: nơi rừng còn dày, bãi bồi ổn định và có khi lấn dần ra; nơi rừng mỏng hoặc bị phá, sóng ăn thẳng vào bờ đất mềm. Đoạn bãi ở khu vực Long Hoà, Cần Thạnh cũ là nơi người thành phố quen gọi là “biển Cần Giờ”. Nước ở đây không trong xanh như Vũng Tàu vì bản chất là nước cửa sông, không phải vì bẩn. Bờ bồi kiểu này rất nhạy với thay đổi dòng chảy: khi lượng phù sa giảm hoặc sóng mạnh hơn, bãi có thể bị gặm vào thay vì lấn ra.
Một số đoạn bờ biển Cần Giờ đã ghi nhận xói lở và được làm kè. Những dự án lớn ven biển ở đây đều phải tính tới chuyện dòng chảy và bồi lắng của cả vùng cửa sông, vì một thay đổi ở chỗ này có thể làm bờ ở chỗ khác bị lở. Chi tiết về bãi biển và đời sống ven biển Cần Giờ thuộc site Cần Giờ.
Bán đảo Vũng Tàu: núi đá chia bãi
Vũng Tàu là một bán đảo hẹp với hai khối núi đá ở đầu mũi, Núi Lớn và Núi Nhỏ, nối với đất liền bằng dải đất thấp. Chính hai ngọn núi chia bờ biển thành nhiều đoạn với tính cách khác hẳn nhau. Bãi Trước nằm trong vịnh, quay về phía tây, được núi che gió đông bắc, sóng nhẹ, nước gần cảng nên kém trong. Bãi Dâu là những bãi nhỏ nép dưới chân Núi Lớn, nhiều đá.
Bãi Sau thì quay mặt ra biển phía đông nam, dài và thẳng, đón trọn sóng gió mùa đông bắc. Đây là bãi cát rộng nhất của bán đảo, nhưng cũng là nơi biển động nhất trong những tháng cuối năm, đầu năm. Ở cực nam, mũi Nghinh Phong nhô ra như một ngón tay đá, sóng vỗ hai bên, nhìn rõ chỗ hai vùng nước gặp nhau.
Giữa hai núi là vùng trũng nơi thành phố Vũng Tàu cũ mở rộng; xưa kia nhiều phần là bãi cát, đầm lầy ven biển, nay đã thành phố, nên khi mưa lớn, nước từ sườn núi đổ xuống những khu thấp này rất nhanh. Đá ở các mũi giữ cho bán đảo ổn định, nhưng các bãi cát giữa chúng vẫn thay đổi theo mùa: mùa gió đông bắc, sóng lớn kéo cát đi, bãi hẹp lại; mùa gió tây nam, cát được trả về một phần. Đoạn bờ có kè, đường ven biển thì sóng lớn có thể đánh qua, mang cát và nước lên mặt đường.
Long Hải tới Bình Châu: dải cát dài và đồi cát
Từ Long Hải đi về phía đông, bờ biển mở thành những dải cát dài, chỉ thỉnh thoảng bị ngắt bởi mũi đá hoặc cửa sông. Núi Minh Đạm nằm giữa Long Hải và Phước Hải là điểm nhô cao, chân núi ra sát biển với nhiều tảng đá lớn. Qua Phước Hải, Lộc An, bờ biển chuyển sang những bãi cát thoải, sau lưng là làng chài, rồi đến vùng Hồ Tràm, Hồ Cốc với đồi cát, rừng cây bụi và rừng ven biển.
Vùng Bình Châu – Phước Bửu có khu bảo tồn thiên nhiên giữ được một mảng rừng ven biển hiếm hoi của Đông Nam Bộ, rừng mọc trên đất cát sát biển. Rừng phòng hộ ven biển ở đây có vai trò chắn cát bay và gió muối cho vùng ruộng vườn phía trong. Bình Châu còn có suối nước nóng, một hiện tượng địa nhiệt ít gặp ở vùng này.
Dải bờ biển hướng đông nam này đón sóng gió mùa đông bắc khá trực diện. Cát di chuyển dọc bờ theo mùa, cửa sông nhỏ có thể bị cát lấp rồi mở lại. Những công trình xây sát mép nước, nhất là các khu nghỉ dưỡng mọc lên nhiều năm gần đây, thường phải làm kè hoặc gia cố để giữ bờ.
Người đi dọc con đường ven biển từ Phước Hải về Bình Châu sẽ thấy rõ sự chuyển cảnh: làng chài đông đúc với thuyền thúng nằm trên bãi, rồi những đoạn rừng phi lao, bạch đàn, cây bụi trên cát, rồi những mũi đá nhỏ nhô ra như ở Hồ Cốc. Mỗi đoạn là một kiểu cân bằng khác nhau giữa cát, sóng và cây.
Vì sao bờ biển bị xói lở
Thiếu cát, thiếu phù sa. Bờ biển là kết quả của cân bằng giữa lượng cát, phù sa được đưa tới và lượng bị sóng mang đi. Hồ chứa ở thượng nguồn giữ lại phù sa, khai thác cát lòng sông và ven biển lấy đi vật liệu, khiến phần bù cho bờ ít đi.
Sóng gió mùa và bão. Gió mùa đông bắc mạnh tạo sóng lớn đánh vào các bãi hướng đông. Những đợt biển động kéo dài, triều cường cộng sóng có thể làm bờ lùi đáng kể chỉ trong một mùa.
Công trình chắn dòng cát. Kè, mỏ hàn, cầu cảng làm thay đổi dòng cát di chuyển dọc bờ. Phía trước công trình có thể được bồi, nhưng phía sau lại bị thiếu cát và xói. Đây là lý do một con kè giữ được bờ nhà này nhưng làm lở bờ nhà bên.
Mất rừng ven biển. Phá rừng phòng hộ, rừng ngập mặn để làm ao nuôi, khu nghỉ dưỡng làm mất lớp giữ đất tự nhiên, cát bay và sóng xâm thực mạnh hơn.
Nước biển dâng. Mực nước biển trung bình tăng chậm khiến sóng đánh lên cao hơn trên bãi. Tác động này nhỏ từng năm nhưng cộng dồn theo thời gian.
Bốn kiểu bờ biển trong một bảng
Bảng dưới so sánh bốn kiểu bờ biển của thành phố mới, kèm điều nên để ý nếu sống, làm việc hay xây dựng ở đó:
| Kiểu bờ | Ở đâu (tên mới) | Đặc điểm | Điều nên để ý |
|---|---|---|---|
| Bãi bồi bùn, rừng ngập mặn | Cần Giờ, Thạnh An, Long Sơn | Nước đục phù sa, bãi thoải, triều rút xa | Nhạy với thay đổi dòng chảy, có đoạn xói lở |
| Bán đảo núi đá xen bãi | Vũng Tàu, Tam Thắng, Rạch Dừa | Mũi đá chắc, bãi cát giữa các mũi | Bãi Sau biển động mùa gió, sóng tràn đường ven biển |
| Dải cát dài, đồi cát | Long Hải, Phước Hải, Hồ Tràm, Xuyên Mộc, Bình Châu | Cát thoải, rừng ven biển, cửa sông nhỏ | Cát di chuyển theo mùa, xói lở ở đoạn hứng sóng |
| Bờ đảo | Đặc khu Côn Đảo | Đá, bãi cát nhỏ giữa mũi, rạn san hô | Bảo vệ rạn, đi lại phụ thuộc mùa gió |
Nhìn bảng thấy rằng ở Vũng Tàu, đá giữ cho đường bờ ổn định; còn ở dải cát phía đông, đường bờ là thứ có thể dịch chuyển. Mua đất sát mép cát ở dải này nghĩa là chấp nhận một biến số tự nhiên mà giấy tờ không ghi.
Sóng, gió và dòng cát ven bờ theo mùa
Bờ biển của thành phố được “nặn” chủ yếu bởi hai mùa gió. Từ khoảng tháng 11 tới tháng 3, gió mùa đông bắc thổi ổn định, sóng từ phía đông, đông bắc đánh vào bờ; những bãi quay mặt về hướng này như Bãi Sau, dải Phước Hải, Hồ Tràm, Bình Châu chịu sóng lớn, bãi hẹp lại, có lúc dốc đứng ở mép nước. Từ khoảng tháng 5 tới tháng 9, gió mùa tây nam chiếm ưu thế, sóng đổi hướng, những bãi phía đông yên hơn, cát được trả về dần.
Sóng đánh chéo vào bờ tạo ra dòng chảy dọc bờ, mang cát từ đoạn này sang đoạn khác. Đây là lý do cửa sông nhỏ ở dải cát phía đông có lúc bị lấp, lúc lại mở; một cửa biển đi thuyền được mùa này có thể cạn mùa sau. Ngư dân ở Phước Hải, Lộc An hiểu rất rõ quy luật đó vì nó quyết định thuyền có ra vào được hay không.
Ngoài sóng gió mùa, những đợt áp thấp, bão ngoài biển Đông dù không đổ bộ vẫn tạo sóng lừng đánh vào bờ. Sóng lừng đến cả khi trời ở bờ đang nắng, kết hợp với triều cường có thể làm nước biển tràn lên đường ven biển, phá kè, gây sạt bờ chỉ trong vài ngày. Người sống ven biển nên coi bản tin cảnh báo sóng lớn quan trọng ngang bản tin mưa.
Côn Đảo: bờ đá, bãi cát nhỏ và rạn san hô
Côn Đảo là quần đảo đá, các đảo có núi cao, sườn dốc xuống biển. Bờ biển phần lớn là đá, xen những bãi cát nhỏ nằm trong vụng giữa hai mũi đá như Đầm Trầu, An Hải, Lò Vôi trên đảo Côn Sơn. Nước biển xa đất liền, ít phù sa nên trong hơn hẳn vùng ven bờ, ánh sáng xuống sâu, rạn san hô và thảm cỏ biển phát triển được.
Vườn quốc gia Côn Đảo bảo vệ cả phần rừng trên đảo lẫn phần biển xung quanh. Các bãi cát trên những hòn nhỏ là nơi rùa biển lên đẻ trứng vào mùa sinh sản. Bờ biển đảo vì thế không chỉ là cảnh đẹp mà là nơi sinh sống của những loài cần bảo vệ, và việc đi lại, lặn biển, neo thuyền đều có quy định riêng.
Sóng gió ở Côn Đảo theo hai mùa gió: mùa gió đông bắc làm biển phía đông động mạnh, mùa gió tây nam đổi hướng sóng. Người trên đảo quen chọn bãi theo hướng gió, mùa này tắm bên này, mùa kia tắm bên kia, một kinh nghiệm địa lý giản dị mà đúng.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao biển Cần Giờ đục còn biển Vũng Tàu trong hơn?
Vì biển Cần Giờ thực chất là vùng cửa sông, nước mang nhiều phù sa từ hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, bãi bùn thoải. Vũng Tàu nằm xa hơn các cửa sông chính và có bãi cát, đá nên nước trong hơn, dù Bãi Trước gần cảng vẫn kém trong hơn Bãi Sau.
Đoạn bờ biển nào của TP.HCM mới đang bị xói lở?
Xói lở đã được ghi nhận ở nhiều đoạn, nhất là bờ bồi Cần Giờ và các bãi cát hứng sóng gió mùa đông bắc ở dải phía đông. Mức độ thay đổi theo năm và theo công trình ven bờ. Muốn biết chính xác một đoạn cụ thể, hãy hỏi chính quyền xã, phường hoặc xem thông báo về vùng có nguy cơ sạt lở.
Mùa nào biển Vũng Tàu động nhất?
Thường vào mùa gió đông bắc, khoảng cuối năm tới đầu năm sau, nhất là ở Bãi Sau quay ra hướng đông nam. Bãi Trước được núi che nên êm hơn. Khi có cảnh báo biển động, cần theo khuyến cáo của lực lượng cứu hộ và chính quyền.
Kè biển có giải quyết được xói lở không?
Kè giữ được đoạn bờ phía sau nó, nhưng có thể làm thay đổi dòng cát dọc bờ và gây xói ở đoạn bên cạnh. Vì vậy giải pháp chống xói thường phải tính cho cả một đoạn bờ dài, kết hợp nuôi bãi, trồng rừng phòng hộ, chứ không chỉ từng công trình riêng lẻ.
Bờ biển TP.HCM mới dài bao nhiêu km?
Sau sáp nhập, bờ biển thành phố dài hơn trước nhiều vì gồm cả dải ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu cũ và bờ các đảo Côn Đảo. Các nguồn đưa ra con số khác nhau tuỳ cách tính có kể bờ đảo hay không, nên nếu cần dùng, hãy lấy số liệu chính thức của thành phố.
Có nên mua đất sát mép biển ở dải Hồ Tràm, Bình Châu không?
Đây là quyết định của người mua, nhưng cần biết đường bờ cát có thể dịch chuyển theo mùa và theo năm, có đoạn đã xói lở. Hãy hỏi về hành lang bảo vệ bờ biển, quy hoạch, lịch sử xói lở của đoạn bờ, và tham khảo chuyên gia trước khi quyết định.