Ngoài sông Sài Gòn, TP.HCM mới còn có sông Đồng Nai chảy dọc ranh phía đông, sông Bé đổ vào từ phía bắc, sông Nhà Bè tách thành hai cửa Soài Rạp và Lòng Tàu ở Cần Giờ, sông Thị Vải chảy qua Phú Mỹ ra vịnh Gành Rái, sông Dinh qua Bà Rịa, và sông Ray làm ranh phía đông Xuyên Mộc. Tất cả, trừ sông Ray, thuộc cùng hệ thống sông Đồng Nai và cùng đổ ra biển qua vùng cửa sông giữa Cần Giờ và Vũng Tàu.
Hiểu hệ thống này giải thích được ba thứ: vì sao cảng lớn nằm ở Cái Mép – Thị Vải chứ không còn ở trung tâm, vì sao nước mặn có thể lên tới gần nhà máy nước, và vì sao Cần Giờ là vùng rừng ngập mặn giữa các dòng sông chứ không phải bờ biển thẳng.
Sông Đồng Nai: dòng lớn chảy dọc mép đông
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên ở Lâm Đồng, chảy qua vùng Tây Nguyên phía nam, vào hồ Trị An rồi xuống Biên Hoà. Đây là con sông nội địa dài bậc nhất Việt Nam, các tài liệu thường nêu dài khoảng 580 km. Khi tới vùng thành phố, sông đã rộng, nước đục và chảy chậm.
Trong ranh TP.HCM mới, sông Đồng Nai làm biên giới tự nhiên ở hai đoạn: phía bắc, nó tách Bắc Tân Uyên, Tân Uyên của Bình Dương cũ với Vĩnh Cửu, Biên Hoà; phía nam, nó tách Thủ Đức cũ, gồm Long Phước, Long Bình, Long Trường, Cát Lái, với Biên Hoà và Nhơn Trạch. Cảng Cát Lái nằm ở bờ sông Đồng Nai, chỗ sông rộng và sâu, gần nút giao thông vành đai, nên trở thành cảng container nội địa bận nhất của thành phố.
Nước sông Đồng Nai cũng là nguồn nước thô cho nhà máy nước lớn ở Thủ Đức. Vì vậy, một sự cố ô nhiễm ở thượng nguồn, chẳng hạn ở khu công nghiệp ven sông bên Đồng Nai, có thể ảnh hưởng trực tiếp tới vòi nước ở nội thành. Chuyện bảo vệ sông Đồng Nai là chuyện liên tỉnh, không riêng của bên nào.
Sông Bé và vùng thượng lưu phía bắc
Sông Bé chảy từ vùng Bình Phước cũ xuống, qua phía đông Phú Giáo, rồi nhập vào sông Đồng Nai gần khu vực Hiếu Liêm, Thường Tân của Bắc Tân Uyên cũ. Tên “Sông Bé” còn là tên một tỉnh cũ, tỉnh Sông Bé, gồm Bình Dương và Bình Phước trước khi tách năm 1997, nên người lớn tuổi ở Bình Dương vẫn quen chữ này như tên quê.
Trên sông Bé có các công trình thuỷ điện ở phía thượng nguồn thuộc Đồng Nai ngày nay. Vì thế mực nước đoạn chảy qua Phú Giáo và Bắc Tân Uyên, giống sông Sài Gòn dưới hồ Dầu Tiếng, phụ thuộc vào lịch vận hành của hồ chứa. Mùa mưa có lúc nước lên nhanh ở các bãi bồi ven sông, người làm vườn và nuôi cá bè ven sông Bé cần theo dõi thông báo xả lũ.
Phía Bắc Tân Uyên còn nhiều đoạn sông khá hoang, bờ là rừng tái sinh và vườn cây. Đây là vùng đầu nguồn nước của thành phố mới, nên việc giữ rừng ven sông và hạn chế khai thác cát ở đây có ý nghĩa xa hơn ranh giới của một xã.
Nhà Bè tách đôi: Soài Rạp và Lòng Tàu
Sau khi sông Sài Gòn và sông Đồng Nai hợp lại thành sông Nhà Bè, dòng chung chảy chưa xa đã tách hai. Nhánh phía tây là sông Soài Rạp, rộng mênh mông, cạn, nhiều bãi bồi, làm ranh giữa Cần Giờ với vùng Cần Giuộc, Gò Công. Nhánh phía đông là sông Lòng Tàu, hẹp hơn nhưng sâu, uốn khúc giữa rừng ngập mặn Cần Giờ rồi ra vịnh Gành Rái.
Lòng Tàu là luồng hàng hải truyền thống: tàu biển vào cảng Sài Gòn xưa đều phải qua đây, men theo những khúc quanh giữa rừng đước. Soài Rạp thì được nạo vét thành luồng cho tàu vào khu cảng Hiệp Phước ở Nhà Bè. Hai cửa sông vì thế không chỉ là địa danh trong sách mà là hai con đường thuỷ đang có tàu chạy mỗi ngày.
Giữa hai nhánh và những nhánh nhỏ hơn như Đồng Tranh, Ngã Bảy là vùng đất Cần Giờ, gần như toàn bộ là bãi bồi và rừng ngập mặn. Chi tiết về từng con sông, rạch trong rừng thuộc site Cần Giờ; ở tầm thành phố, chỉ cần thấy rằng Cần Giờ chính là vùng châu thổ nhỏ do các nhánh sông Đồng Nai – Sài Gòn bồi nên.
Sông Thị Vải, Cái Mép và vịnh Gành Rái
Sông Thị Vải chảy từ vùng Đồng Nai xuống, qua Phú Mỹ của Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, rồi đổ ra vịnh Gành Rái. Đúng ra Thị Vải là một sông ngắn, phần hạ lưu giống một nhánh biển ăn sâu vào đất liền hơn là một dòng sông thông thường: nước sâu, ít phù sa, ảnh hưởng triều rất mạnh. Chính đặc điểm đó cho phép tàu container rất lớn vào được, và cụm cảng Cái Mép – Thị Vải mọc lên dọc bờ.
Hai bên bờ Thị Vải là khu công nghiệp nặng: điện, thép, phân bón, khí, cảng. Nước sông từng bị ô nhiễm nặng do nước thải công nghiệp vào khoảng cuối những năm 2000, rồi được xử lý và phục hồi dần. Đó là bài học còn được nhắc trong ngành môi trường: một con sông ít nước ngọt, chịu triều mạnh thì rất dễ bị đầu độc vì chất thải không được rửa trôi nhanh.
Vịnh Gành Rái là vùng nước nằm giữa bán đảo Vũng Tàu, Cần Giờ và cửa sông Thị Vải, Lòng Tàu. Mọi luồng tàu vào cảng của thành phố đều phải qua vịnh này. Phía trong vịnh có xã đảo Long Sơn và các bãi bồi, rừng ngập mặn, làng bè nuôi hàu, cá.
Nước mặn đi ngược dòng: hệ thống sông nhìn từ phía biển
Vì vùng cửa sông thấp và triều mạnh, nước biển không dừng ở bờ mà theo triều đi ngược lên các dòng sông rất xa. Mùa khô, khi lượng nước từ thượng nguồn giảm, ranh mặn lùi sâu vào trong: qua Cần Giờ, Nhà Bè, lên tới đoạn sông Sài Gòn, sông Đồng Nai chảy qua vùng đô thị. Mùa mưa, nước ngọt dồi dào đẩy ranh mặn lùi ra phía biển.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới hai nhóm người. Thứ nhất là nhà máy nước: cửa lấy nước thô phải đặt ở chỗ nước đủ ngọt quanh năm, và những năm mặn sâu phải nhờ hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An xả thêm nước để đẩy mặn. Thứ hai là người làm nông ở vùng thấp phía nam như Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ: nước kênh tưới rau có thể lợ lúc nào không hay, nên nhiều nhà phải đo độ mặn trước khi bơm.
Vùng nước lợ cũng đem lại sản vật riêng: rừng ngập mặn, tôm, cua, sò, hàu, cá kèo. Một hệ thống sông vừa mang nước ngọt cho mười mấy triệu người, vừa nuôi một vùng nước lợ phong phú ở cửa biển, là điều ít thành phố lớn nào có.
Phù sa, cát và chuyện bờ sông bị ăn vào
Sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài Gòn mang theo phù sa và cát từ thượng nguồn. Một phần lắng ở các bãi bồi ven sông, tạo nên những vạt đất vườn màu mỡ ở Lái Thiêu, An Phú Đông, Tân Uyên; một phần trôi ra cửa sông, bồi nên vùng Cần Giờ. Cát lòng sông từ lâu được khai thác làm vật liệu xây dựng cho chính thành phố đang lớn lên.
Khi khai thác cát quá mức hoặc sai chỗ, lòng sông bị khoét sâu, dòng chảy đổi hướng và bờ sông bị ăn vào. Cộng thêm sóng do tàu, sà lan chạy nhanh, nhiều đoạn bờ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn ở các khúc uốn đã có sạt lở, có nơi kéo theo nhà cửa, vườn cây. Các hồ chứa ở thượng nguồn giữ lại một phần phù sa cũng làm lượng bồi bù xuống hạ lưu ít đi.
Người mua đất hay sống ven sông nên để ý những dấu hiệu như bờ dựng đứng, vết nứt song song với mép nước, cây nghiêng ra sông, kè cũ bị hở chân. Chính quyền địa phương thường công bố những đoạn có nguy cơ sạt lở; hỏi trước ở phường, xã nơi định mua đất là việc nên làm.
Các dòng sông chính trong một bảng
Bảng dưới gom các sông chính thuộc hoặc chạy qua TP.HCM mới, kèm khu vực theo tên phường xã mới và việc con sông gánh. Số chiều dài cố ý bỏ qua vì mỗi nguồn ghi một kiểu.
| Sông | Chảy qua (tên mới, tiêu biểu) | Đặc điểm | Gánh việc gì |
|---|---|---|---|
| Sài Gòn | Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, Hiệp Bình, Sài Gòn, Nhà Bè | Uốn khúc, chịu triều | Nước sinh hoạt, vận tải, cảnh quan đô thị |
| Đồng Nai | Bắc Tân Uyên, Tân Uyên, Long Phước, Cát Lái | Rộng, sâu đoạn hạ lưu | Nước thô, cảng Cát Lái, ranh với Đồng Nai |
| Bé | Phú Giáo, Thường Tân | Nhánh phía bắc, có hồ chứa | Nước đầu nguồn, cá bè, vườn |
| Soài Rạp | Hiệp Phước, Cần Giờ | Rộng, cạn, nhiều bãi bồi | Luồng tàu vào Hiệp Phước, ranh phía tây |
| Lòng Tàu | Bình Khánh, An Thới Đông, Cần Giờ | Sâu, uốn qua rừng ngập mặn | Luồng hàng hải truyền thống |
| Thị Vải | Phú Mỹ, Tân Phước, Tân Hải | Gần như nhánh biển, nước sâu | Cảng nước sâu, công nghiệp nặng |
| Dinh | Bà Rịa, Long Hương | Sông ngắn qua đô thị Bà Rịa | Tiêu nước, cảnh quan, đò cá |
| Ray | Xuyên Mộc, Hoà Hội | Ranh phía đông với Đồng Nai | Tưới tiêu vùng đất đỏ, rừng ven sông |
Nhìn bảng sẽ thấy một điều thú vị: các cảng lớn đều chọn sông sâu, ít phù sa (Đồng Nai đoạn Cát Lái, Thị Vải), còn các vùng rừng ngập mặn và bãi bồi lại nằm ở nơi sông cạn, nhiều phù sa (Soài Rạp, Cần Giờ). Đó là cùng một quy luật dòng chảy nhìn từ hai phía.
Sông Dinh và sông Ray: hai dòng sông của phía đông
Sông Dinh chảy qua giữa Bà Rịa, ra vịnh Gành Rái gần Long Sơn. Với người Bà Rịa, đây là con sông phố, hai bờ kè, có cầu nối khu trung tâm với Long Hương, Kim Dinh. Tên sông gắn với núi Dinh ở phía bắc; người ta cũng gọi khúc hạ lưu bằng những tên địa phương khác. Sông ngắn, ảnh hưởng triều rõ, mùa khô nước lợ vào khá sâu.
Sông Ray thì ở mép đông, chảy từ vùng đồi Đồng Nai xuống, làm ranh giữa Xuyên Mộc và phần Đồng Nai cũ trên một đoạn dài, rồi đổ ra biển gần vùng Lộc An, Phước Thuận. Hai bên sông Ray là đất đỏ, vườn tiêu, điều, cao su, và một phần rừng của khu bảo tồn Bình Châu – Phước Bửu ở gần. Có hồ chứa trên sông Ray cấp nước tưới cho vùng Châu Đức, Xuyên Mộc.
Hai sông này nhỏ hơn nhiều so với Sài Gòn, Đồng Nai, nhưng nhắc tới để thấy rằng phía đông thành phố có mạng sông riêng, không chảy chung một lối với Sài Gòn. Ngập, mặn và nguồn nước ở Bà Rịa, Xuyên Mộc vì vậy phải tính theo lưu vực của chính chúng.
Câu hỏi thường gặp
Sông Đồng Nai có chảy qua TP.HCM không?
Có. Sông Đồng Nai chảy dọc mép đông thành phố, làm ranh giữa Bắc Tân Uyên, Tân Uyên, Thủ Đức cũ với tỉnh Đồng Nai. Cảng Cát Lái nằm bên bờ sông này, và nhà máy nước ở Thủ Đức lấy nước thô từ đây.
Câu “nước sông Nhà Bè chảy hai ngả” là có thật không?
Có cơ sở địa lý thật. Sông Nhà Bè hình thành từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai, chảy một đoạn thì tách thành hai nhánh Soài Rạp và Lòng Tàu để ra biển. Câu ca dao mượn hình ảnh hai ngả nước ấy để nói chuyện chia ly.
Vì sao cảng lớn lại ở Cái Mép – Thị Vải chứ không ở trung tâm?
Vì sông Thị Vải đoạn hạ lưu sâu, ít phù sa, gần biển, tàu container cỡ rất lớn vào được, trong khi sông Sài Gòn qua trung tâm hẹp hơn, nông hơn và vướng cầu. Cảng gần trung tâm cũng gây kẹt xe tải trong đô thị.
Vịnh Gành Rái nằm ở đâu?
Vịnh Gành Rái là vùng nước giữa bán đảo Vũng Tàu, rừng ngập mặn Cần Giờ và cửa sông Thị Vải, Lòng Tàu. Luồng tàu vào các cảng của thành phố đều qua đây; trong vịnh có xã đảo Long Sơn và nhiều bè nuôi hải sản.
Sông Soài Rạp và Lòng Tàu khác nhau thế nào?
Soài Rạp rộng, cạn, nhiều bãi bồi, làm ranh phía tây Cần Giờ và được nạo vét cho tàu vào Hiệp Phước. Lòng Tàu hẹp hơn nhưng sâu, uốn qua rừng ngập mặn, là luồng tàu biển truyền thống vào cảng Sài Gòn.
Sông Thị Vải bây giờ còn ô nhiễm không?
Sông từng bị ô nhiễm nặng vào cuối thập niên 2000 rồi được xử lý, phục hồi dần. Chất lượng nước hiện nay do cơ quan môi trường quan trắc định kỳ; muốn biết tình trạng mới nhất, hãy xem báo cáo quan trắc công bố gần nhất thay vì dựa vào thông tin cũ.