Rừng ngập mặn của TP.HCM mới tập trung lớn nhất ở Cần Giờ, vùng cửa sông giữa Soài Rạp và Lòng Tàu; ngoài ra còn những dải rừng dọc sông Thị Vải và quanh cửa Cái Mép phía Phú Mỹ, quanh xã đảo Long Sơn trong vịnh Gành Rái, và vài vạt nhỏ ở các vụng kín gió của Côn Đảo. Đây là hệ sinh thái sống được trong nước lợ, ngập theo triều mỗi ngày, gồm những loài cây như đước, mắm, bần, dà, dừa nước.
Rừng Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2000, và phần lớn rừng hiện nay là rừng trồng lại sau chiến tranh. Với một thành phố nằm trên đất thấp ven biển, những cánh rừng này là lá chắn sóng gió, là vườn ươm tôm cá và là lá phổi xanh ở phía nam.
Bài này nhìn rừng ngập mặn ở tầm cả thành phố: rừng nằm ở đâu, sống được nhờ gì, làm được gì cho đô thị, và những sức ép đang đặt lên nó. Chuyện đi thăm từng khu rừng, từng con rạch ở Cần Giờ có site riêng của Cần Giờ.
Rừng ngập mặn sống được nhờ đâu
Cây rừng ngập mặn sống ở nơi mà đa số cây khác chết: đất bùn thiếu ôxy, nước mặn lợ, ngập mỗi ngày hai lần theo triều. Chúng có những cách thích nghi rất riêng. Đước có rễ chống hình vòm đỡ thân trên bùn; mắm có rễ thở mọc ngược lên khỏi mặt bùn như những chiếc đũa; nhiều loài lọc muối ở rễ hoặc thải muối qua lá. Hạt đước nảy mầm ngay trên cây thành trụ mầm dài, rụng xuống cắm vào bùn là mọc.
Điều kiện để rừng hình thành là bãi bồi đủ phù sa, sóng không quá mạnh và có con nước ra vào đều đặn. Vùng cửa sông của hệ thống Đồng Nai – Sài Gòn có đủ cả ba: sông mang phù sa xuống, các cửa sông và vịnh Gành Rái che bớt sóng biển, triều lên xuống mạnh mỗi ngày. Vì thế rừng mọc dày ở Cần Giờ, Thị Vải, Long Sơn chứ không mọc ở bãi cát hứng sóng như Bãi Sau Vũng Tàu hay Hồ Tràm.
Một điều thú vị là rừng ngập mặn tự “xây” nền đất cho chính nó: rễ cây giữ bùn, lá rụng phân huỷ thành lớp hữu cơ, mặt bãi cao dần lên theo năm. Rừng sắp xếp theo độ ngập: mắm, bần thường mọc tiên phong ở bãi bùn mới bồi sát mép nước; đước chiếm phần đất ngập thường xuyên phía trong; dừa nước mọc ven các con rạch có nước lợ nhạt hơn. Đi từ bờ sông vào sâu, người tinh mắt sẽ thấy các vành cây thay đổi như những bậc thang.
Cần Giờ: khu rừng hồi sinh của thành phố
Rừng Sác, tên cũ của vùng rừng Cần Giờ, từng bị tàn phá nặng trong chiến tranh bởi chất độc hoá học và bom đạn, nhiều nơi chỉ còn bãi bùn trơ trụi. Từ cuối những năm 1970, thành phố tổ chức trồng lại rừng trên diện rộng, chủ yếu là đước, rồi để thiên nhiên tự phục hồi thêm các loài khác. Mấy chục năm sau, rừng khép tán trở lại, chim, khỉ, cá sấu, dơi, các loài thuỷ sản quay về.
Năm 2000, UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam. Khu này được chia vùng lõi để bảo vệ nghiêm ngặt, vùng đệm cho sinh hoạt có kiểm soát và vùng chuyển tiếp nơi dân cư sinh sống, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản, làm du lịch.
Với cả TP.HCM, câu chuyện Cần Giờ có giá trị như một bằng chứng: rừng ngập mặn có thể hồi sinh nếu được trồng đúng loài, đúng chỗ và được giữ đủ lâu. Chi tiết về các loài cây, con vật và những khu rừng cụ thể nên đọc ở site Cần Giờ; ở đây chỉ cần thấy rằng phía nam thành phố có một vành đai xanh hàng chục nghìn hecta mà ít đô thị lớn nào có.
Thị Vải, Cái Mép và Long Sơn: rừng bên cạnh cảng và nhà máy
Phần Bà Rịa – Vũng Tàu cũ đem vào thành phố những dải rừng ngập mặn nằm sát khu công nghiệp. Dọc sông Thị Vải và quanh cửa Cái Mép, rừng mắm, đước, dừa nước trải trên các bãi bồi, ngay đối diện cầu cảng container và nhà máy. Cảnh tượng ấy hiếm thấy: tàu biển vài chục nghìn tấn chạy qua, hai bên là rừng xanh và đàn chim kiếm ăn trên bãi bùn.
Rừng ở đây có vai trò khá đặc biệt. Nó giữ bờ sông khỏi bị sóng tàu xói lở, làm nơi sinh sản cho cá, tôm, cua của vùng nước lợ, và lọc bớt một phần chất ô nhiễm trong nước. Sau giai đoạn sông Thị Vải bị ô nhiễm nặng, việc phục hồi hệ sinh thái ven sông là một phần trong câu chuyện hồi sinh dòng sông.
Long Sơn là xã đảo trong vịnh Gành Rái, nằm giữa sông Dinh, sông Thị Vải và biển. Quanh đảo là bãi bồi, rừng ngập mặn và hàng trăm bè nuôi hàu, cá. Khu vực này đang có các dự án công nghiệp lớn, nên câu hỏi giữ rừng ra sao song song với phát triển là chuyện thường được người dân và báo chí địa phương bàn đến.
Điểm chung của ba nơi này là rừng nằm sát cạnh hoạt động kinh tế nặng, không có vùng đệm rộng như Cần Giờ. Một sự cố tràn dầu, một đợt xả thải hay một con đê mới đắp đều có thể tác động ngay tới rừng. Vì thế giám sát chất lượng nước và bãi bồi ở vùng Thị Vải, Long Sơn có ý nghĩa với cả ngư dân lẫn doanh nghiệp đang hoạt động ở đó.
Người sống cùng rừng: nghề và nhịp con nước
Rừng ngập mặn không phải vùng không người. Ở vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Cần Giờ, quanh Long Sơn và ven sông Thị Vải, nhiều gia đình sống bằng nghề gắn với rừng: bắt cua, đặt lú bắt tôm cá trong rạch, cào nghêu, nuôi hàu trên bãi và trên bè, làm muối ở những vùng đất mặn đã khai hoang từ lâu. Một số hộ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, đi tuần theo con nước để ngăn chặt phá và săn bắt trái phép.
Nhịp sống ở đây đi theo triều chứ không theo đồng hồ. Người bắt cua đi lúc nước ròng khi hang lộ ra, người đặt lú đi lúc nước bắt đầu lên, người nuôi hàu canh những đợt nước ngọt nhiều sau mưa lớn vì độ mặn tụt nhanh có thể làm hàu chết. Biết giờ triều là kỹ năng đầu tiên của bất cứ ai sống bằng rừng.
Với thành phố, những người này là lớp bảo vệ rừng hiệu quả nhất, vì họ có lợi ích trực tiếp khi rừng còn. Các chương trình giao khoán rừng, hỗ trợ nghề nuôi trồng bền vững, du lịch cộng đồng đều dựa trên ý tưởng đó: để người dân sống được nhờ rừng đứng, chứ không phải nhờ rừng bị chặt.
Rừng ngập mặn làm được gì cho một thành phố lớn
Chắn sóng và gió. Dải rừng dày làm giảm năng lượng sóng trước khi sóng tới bờ, giảm gió mạnh trong mùa giông bão. Với vùng đất thấp phía nam, đây là lớp đệm tự nhiên rẻ hơn mọi con đê.
Giữ đất, bồi đất. Bộ rễ chằng chịt giữ bùn, làm chậm dòng chảy để phù sa lắng xuống. Ở nơi rừng còn, bãi bồi có thể lấn dần ra; ở nơi rừng mất, bờ dễ bị xói lở.
Nuôi nguồn lợi thuỷ sản. Nhiều loài tôm, cá, cua đẻ và lớn lên trong rừng ngập mặn trước khi ra biển. Ngư dân ven bờ, người nuôi hàu, nuôi sò ở cửa sông đều sống nhờ phần “vườn ươm” này.
Lọc nước. Bãi bùn và rễ cây giữ lại một phần chất lơ lửng, chất dinh dưỡng và một số chất ô nhiễm từ thượng nguồn trước khi nước ra biển. Rừng không thay được nhà máy xử lý nước thải, nhưng là lớp lọc cuối cùng.
Lưu giữ cacbon. Đất rừng ngập mặn tích luỹ lượng cacbon lớn trong bùn qua nhiều năm. Đây là lý do rừng ngập mặn hay được nhắc tới trong các chương trình về khí hậu.
Không gian xanh cho người thành phố. Với hơn chục triệu dân, có một vùng rừng lớn trong ranh thành phố là điều quý. Đi thăm rừng có trách nhiệm cũng giúp người dân hiểu vì sao phải giữ nó.
Những sức ép đang đặt lên rừng
Rừng ngập mặn nằm ở chỗ đất phẳng, gần biển, gần sông, nên luôn bị nhắm tới cho những mục đích khác: ao nuôi tôm, ruộng muối, khu đô thị, cảng, đường. Ở nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam, rừng ngập mặn từng mất đi nhanh nhất vì phá rừng làm ao tôm. Khi ao bị bỏ hoang, đất đã thoái hoá, rất khó trồng lại.
Đô thị hoá là sức ép mới. Các dự án lớn ở vùng ven biển và cửa sông, kể cả dự án lấn biển ở Cần Giờ, luôn đi kèm câu hỏi về tác động tới rừng và tới dòng chảy, bồi lắng của cả vùng. Đây là những dự án cần đánh giá tác động môi trường kỹ, và người dân có thể theo dõi qua thông tin công khai của dự án.
Những sức ép nhỏ hơn nhưng dai dẳng là rác nhựa trôi từ thượng nguồn mắc vào rễ cây, ô nhiễm nước từ khu dân cư và khu công nghiệp, khai thác thuỷ sản quá mức trong rừng, và nước biển dâng làm thay đổi độ ngập. Rừng ngập mặn có thể dịch chuyển vào sâu trong đất liền khi nước biển dâng chậm, nhưng chỉ khi phía sau còn đất trống, còn nếu phía sau là đê và nhà cửa thì rừng bị kẹp lại.
Đi thăm rừng ngập mặn mà không làm hại rừng
Phần lớn người dân thành phố tiếp xúc với rừng ngập mặn qua những chuyến đi cuối tuần. Vài nguyên tắc để chuyến đi tốt cho cả người lẫn rừng:
- Đi trên lối đi, cầu gỗ có sẵn; không tự lội vào bãi bùn, vì bùn lún, vỏ hàu sắc và nước lên nhanh hơn người ta tưởng.
- Xem giờ triều trước khi đi; lúc nước ròng thấy được rễ cây, cua còng, cá thòi lòi, lúc nước lớn thì hợp đi thuyền.
- Không cho khỉ ăn, không trêu động vật; thức ăn của người làm chúng hung dữ và phụ thuộc.
- Mang rác về, nhất là chai nhựa, túi ni lông; rác mắc vào rễ cây rất khó gỡ.
- Không bẻ cành, nhổ trụ mầm đước làm kỷ niệm; trụ mầm là thế hệ rừng tiếp theo.
- Chống muỗi, mang nước uống, mặc áo dài tay; trong rừng nóng ẩm và không có nhiều chỗ mua đồ.
Muốn biết đi chỗ nào, mở cửa giờ nào, nên xem thông tin của địa phương và các khu du lịch ở Cần Giờ hay Phú Mỹ, vì lịch và quy định thay đổi theo mùa.
Câu hỏi thường gặp
Rừng ngập mặn Cần Giờ rộng bao nhiêu?
Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ rộng hàng chục nghìn hecta, gồm vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp; diện tích rừng thực tế nhỏ hơn diện tích cả khu. Các con số khác nhau theo nguồn và năm thống kê, nên khi cần dùng số liệu, hãy lấy từ cơ quan quản lý rừng.
Ngoài Cần Giờ, TP.HCM còn rừng ngập mặn ở đâu?
Có những dải rừng dọc sông Thị Vải và quanh cửa Cái Mép ở phía Phú Mỹ, quanh xã đảo Long Sơn trong vịnh Gành Rái, ven sông Dinh, và vài vạt nhỏ ở các vụng kín gió của Côn Đảo. Các vạt rừng này nhỏ hơn Cần Giờ nhiều nhưng có giá trị riêng.
Rừng Cần Giờ là rừng tự nhiên hay rừng trồng?
Phần lớn là rừng trồng lại sau chiến tranh, chủ yếu là đước, kết hợp với rừng tái sinh tự nhiên của các loài khác. Sau mấy chục năm, rừng đã khép tán và có hệ động vật phong phú trở lại, nên nhìn bằng mắt khó phân biệt với rừng tự nhiên.
Rừng ngập mặn có chống được triều cường cho nội thành không?
Rừng giảm sóng, gió và giữ đất ở vùng cửa sông, nhưng không chặn được việc mực nước sông dâng theo triều vào nội thành. Chống ngập do triều ở khu dân cư vẫn cần đê bao, cống kiểm soát và quy hoạch cao độ hợp lý.
Đi rừng ngập mặn mùa nào hợp?
Mùa khô thường thuận tiện hơn vì ít mưa giông, đường đi khô ráo. Quan trọng hơn mùa là giờ triều: nước ròng để xem rễ và sinh vật bãi bùn, nước lớn để đi thuyền vào rạch. Hãy xem lịch triều và thời tiết trước ngày đi.
Có được tự chèo thuyền vào rừng không?
Nhiều khu vực rừng có quy định riêng về đi lại, nhất là vùng lõi cần bảo vệ nghiêm ngặt. Nên đi theo tuyến của các điểm tham quan hoặc người địa phương có hiểu biết, hỏi trước ban quản lý rừng, và tuyệt đối không đi khi không rõ giờ triều.